• Slide 01
  • Slide 02
  • Slide 03
  • Slide 04
  • Slide 05
  • Slide 06
  • Slide 07
  • Slide 08
Phòng trừ sâu bệnh hại cây Lúa

Phòng trừ sâu bệnh hại cho cây Lúa

  1. Quản lý dịch hại
  • Ốc bươu vàng:

Ốc bươu vàng thường cắn ngang cây lúa non hay chồi non từ ngay sau sạ đến cây lúa 30 ngày tuổi. Đây là giai đoạn thiệt hại nặng nhất.

Khi ốc bươu vàng phát triển ở mật độ cao có thể làm ruộng mất trắng, làm thiệt hại về giống, phải sạ lại nhiều lần, ruộng lúa sinh trưởng không đồng đều, khó khăn cho việc chăm sóc và thu hoạch, ảnh hưởng đến năng suất lúa.

Biện pháp phòng trừ:

  • Làm đất kỹ bằng phẳng, tránh trũng nước.
  • Đánh rãnh thoát nước giúp ốc bươu vàng tập trung để thu gom bằng tay hay xử lý thuốc ốc thuận tiện hơn.
  • Sử dụng các loại hoạt chất: Saponin, Niclosamide,Metaldehyde … để phòng trừ.
  • Bọ trĩ (Bù lạch):

Bọ trĩ trưởng thành và bọ trĩ non đều hút nhựa lá và hoa làm cây lúa sinh trưởng còi cọc, hoa lúa không thụ phấn được. Lá lúa non bị hại có nhiều điểm trắng nhỏ, khi bị hại nặng thì chóp lá khô vàng và cuốn quăn lại, sau đó lan dần ra cả lá. 

Biện pháp phòng trừ: Nên dùng các loại thuốc có nguồn gốc sinh học để bảo vệ các thiên địch: Abamectin + Petroleum oil, Karanjin…

  • Sâu phao:

Sâu phao đục bẹ gây hại nặng ở thời kỳ mạ - đẻ nhánh, ấu trùng cắn lá cây lúa non thành từng đoạn, dùng tơ kết hai mảnh lá ghép lại tạo thành phao cư trú. Sâu non thò đầu ra khỏi phao, đục thủng bẹ xuyên qua thân lúa giống triệu chứng gây hại của sâu đục than, gốc bị thối, úng nước, mềm nhũn, ruộng lúa bị chết thành từng vạt lớn.

Biện pháp phòng trừ: Không nên để mực nước quá cao, vì sâu phao dễ lây lan theo nước, chỉ khống chế mực nước khoảng 10 - 15cm trên ruộng. Không sạ quá dày hoặc bón thừa phân đạm. Sử dụng các loại hoạt chất: Chlorpyrifos Ethyl + Cypermethrin, Emamectin benzoate + Avermectin, Esfenvalerate, Quinalphos…để phòng trừ.

  • Rầy nâu:

Rầy cám và rầy trưởng thành chích hút nhựa cây lúa gây ra hiện tượng cháy rầy khi mật số cao. Rầy gia tăng mật số nhanh và cao (bộc phát) gây hại nặng khi trồng lúa liên tục trong năm, dùng giống nhiễm rầy, gieo cấy mật độ dày, bón thừa đạm, phun thuốc trừ sâu không đúng.

Là trung gian truyền virus gây bệnh vàng lùn, lùn xoán lá trên lúa.

Biện pháp phòng trừ:Không gieo cấy quá dày, bón cân đối NPK, tránh bón thừa phân đạm. Sử dụng luân phiên các loại hoạt chất:Pymetrozine,Imidacloprid, Fenobucarb + Phenthoate… Chú ý đưa mực nước ruộng lên caotrước khi phun thuốc.

  • Sâu cuốn lá nhỏ:

Sâu gây hại cả thời kỳ mạ và lúa, nhưng phá hoại mạnh nhất là thời kỳ lúa đẻ nhánh đến trổ bông. Sâu non nhả tơ cuốn dọc lá thành bao thẳng đứng và nằm trong đó ăn phần chất xanh trên mặt lá, lá lúa bị bạc trắng,giảm diện tích quang hợp, gây tổn thất cho năng suất và chất lượng nông sản.Nếu sâu gây hại nặng vào giai đoạn lúa có đòng to - trổ bông, thì tỷ lệ thiệt hại có thể lên tới 30 - 70% năng suất lúa.

Biện pháp phòng trừ:Sử dụng các loại hoạt chất:Chlorfluazuron, Alpha – cypermethrin, Chlorpyrifos Ethyl…Phun thuốc khi trứng sâu nở rộ hoặc phun sau khi ngớt bướm 2 - 3 ngày (thăm đồng 2 ngày/lần, xua ngọn lá lúa kiểm tra thấy mật độ bướm giảm đột ngột so với thời điểm bướm ra rộ).

  • Sâu đục thân (Sâu ống):

Thời kỳ mạ hoặc đẻ nhánh, sâu đục qua bẹ phía ngoài vào đến nõn giữa phá hại, làm cho dảnh lúa bị héo.Thời kỳ sắp trỗ hoặc mới trỗ, sâu  đục qua lá bao của  đòng chui vào giữa rồi bò xuống đục ăn điểm sinh trưởng, cắt đứt các mạch dẫn dinh dưỡng làm cho bông lép trắng.

Biện pháp phòng trừ: Nếu điều kiện nước chủ động có thể điều chỉnh mực nước ở ruộng để diệt sâu. Sử dụng các loại hoạt chất để phòng trừ sâu đục thân: Chlorantraniliprole + Thiamethoxam, Chlorpyrifos Ethyl…

  • Nhện gié:

Nhện gié gây hại cho lúa ở mọi giai đoạn, từ khi gieo mạ đến trổ chín và trên mọi bộ phận của cây lúa: bẹ lá, gân lá, gié lúa và hạt lúa… Giai đoạn nhện gây hại phổ biến khi lúa được 35 - 40 NSS trở về sau.

Nhện chích hút nhựa trên bẹ lá tạo thành những sọc nâu bầm giống như cạo gió (còn gọi là bệnh cạo gió). Khi lúa có đòng, nhện hút nhựa đòng làm bông lúa trỗ ra có nhiều hạt lép hoặc lép cả bông. Nhện gây hại trên bông làm hạt lúa co xoắn lại và biến màu vàng nhạt (hiện tượng lép vàng). Khi mật độ cao nhện bò lên bông lúa hút nhựa và tiếp tục gây lép hạt.

Nhện thường mang theo bào tử nấm gây bệnh thối bẹ lúa.

Biện pháp phòng trừ: Dùng hoạt chất trừ nhện khi lúa sắp có đòng phát hiện một số ít dảnh bị hại: Indoxacarb, Imidacloprid… Trước khi phun thuốc cần vô nước cho mực nước ruộng cao để đẩy nhện gié di chuyển lên phía trên thân lúa dễ dính thuốc. Do nhện gié sống trong bẹ lá lúa nên cần phun lượng nước cao (3 - 4 bình 16 lít/1.000 m2).

  • Muỗi hành – Sâu năn:

Cây lúa bị gây hại nặng trong giai đoạn đẻ nhánh. Triệu chứng điển hình là lá ngọn của lúa cuốn tròn lại như lá hành, phía đầu lá hành được bịt kín bằng một nút cứng do mô lá tạo thành.

Sâu non  xâm nhập vào điểm sinh trưởng làm cổ áo và lá đọt không vươn dài. Cây lúa nhỏ, gân lúa hơi cứng. Khi sâu lớn gốc dảnh lúa tròn và  phình to, sắc lá đậm. Lá đọt ngắn và dựng đứng. Khi lá hành còn trong thân lúa chưa vươn ra ngoài sẽ làm cho thân cây lúa phình lên rõ. Ống hành thường xuất hiện trong vòng 7 – 10 ngày sau khi sâu non xâm nhập vào điểm sinh trưởng.

Khi sâu non đẫy sức vào nhộng thì ống hành vươn dài.có màu trắng ngà, phía ngọn có màu xanh nhạt. Sau khi nhộng vũ hóa, ống hành vàng héo dần, ngọn thâm khô và cụt đi.

Dảnh lúa bị biến thành ống hành sẽ không trỗ bông được nhưng có thể mọc chồi mới để bù lại số chồi bị hại.

Biện pháp phòng trừ: Khi phát hiện có nhiều dảnh bị hại dùng thuốc BVTV để phòng trừ:

+ Thuốc rãi:Fipronil, Chlorpyrifos Ethyl + Fipronil …

+ Thuốc phun: Chlorfluazuron + Fipronil, Alpha - cypermethrin…

  1. Biện pháp phòng trừ tổng hợp (IPM) trên cây lúa: 

- Bắt bướm hay rầy trưởng thành bằng vợt hay bẫy đèn, ngắt ổ trứng các loại sâu và các lá có mang sâu.

- Duy trì và bảo vệ các sinh vật có ích như ếch nhái, nhện, bọ rùa, dế nhảy, muỗm muỗm, bọ xít mù xanh, bọ xít nước, kiến ba khoang, ong mắt đỏ, ong kén trắng, ong đen, ong xanh, ong đùi, nấm tua, nấm xanh, nấm phấn trắng, v.v. bằng cách không sử dụng hoặc hạn chế sử dụng thuốc trừ sâu khi trên ruộng xuất hiện nhiều loài thiên địch. Nếu bắt buộc phải phun thuốc khi có dịch thì phải chọn loại thuốc chọn lọc ít độc đến thiên địch.

- Sử dụng chế phẩm sinh học trừ sâu rầy hại lúa như chế phẩm từ vi khuẩn Bacillus thuringienis để trừ sâu non của các loài sâu thuộc bộ cánh vảy và 2 chế phẩm từ nấm ký sinh côn trùng như Metarhirium anisopliae (nấm xanh) và Beauveria bassiana Vuill (nấm trắng) để trừ các loài rầy, bọ xít và sâu cuốn lá nhỏ hại lúa.

- Không phun thuốc trừ sâu trong vòng 40 ngày đầu sau sạ để bảo vệ hệ thiên địch, chỉ phun thuốc trừ sâu khi mật số tới ngưỡng phòng trừ quy định và phải tuân thủ kỹ thuật 4 đúng:

· Đúng thuốc: Chọn thuốc đúng đối tượng sâu hại.

· Đúng liều lượng: Tuân thủ quy định về liều lượng thuốc và nước pha theo chỉ dẫn ghi trên nhãn.

· Đúng lúc: Phun khi mật số sâu hại phát triển nhiều hơn mật số thiên địch.

· Đúng cách: Phải phun trúng vào nơi có sâu rầy sinh sống như rầy ở gốc lúa, sâu ở trên lá hay trên thân.

  • Bệnh khô vằn:

Là đối tượng gây hại thường xuyên trên ruộng, bệnh gây hại trên tất cả các giống, các trà lúa. Bệnh gây hại từ giai đoạn lúa cuối đẻ nhánh trở đi, cao điểm từ khi lúa ôm đòng trỗ đến đỏ đuôi, đặc biệt là trên các diện tích thâm canh không cân đối: cấy dày, bón nhiều đạm.

Biện pháp phòng trị:

Từ giai đoạn lúa đứng cái trở đi, cần chú ý thăm đồng, khi phát hiện dảnh lúa bị bệnh cần sử dụng hoạt chất hóa học để phun: Hexaconazole, Validamycin…

Không cần phải phun hết cả ruộng mà chỉ phun cục bộ ở từng điểm có bệnh.

  • Bệnh đạo ôn:

Đây là bệnh hại nguy hiểm nhất trên cây lúa, bệnh xuất hiện và gây hại ở tất cả các giai đoạn. Bệnh gây hại nặng từ giai đoạn lúa đẻ nhánh rộ trở đi, tấn công trên lá, đốt thân, cổ lá và cổ gié.Bệnh đặc biệt thích hợp với điều kiện thời tiết khí hậu mát lạnh, có sương.

Biện pháp phòng trị:

  • Đạo ôn lá: Thăm đồng thường xuyên để phát hiện bệnh kịp thời. Khi thấy có một vài vết bệnh xuất hiện, sử dụng hoạt chất hóa học: Tricyclazole, Isoprothiolane …
  • Đạo ôn cổ bông: Vào giai đoạn lúa ôm đòng trỗ cần theo dõi chặt chẽ diễn biến thời tiết, nếu điều kiện thời tiết thuận lợi đối với bệnh (ẩm độ cao, mưa kéo dài, trời âm u…) cần tiến hành phun phòng 2 lần trước và sau trỗ 7 ngày bằng các hoạt chất đặc trị: Fthalide + Kasugamycin, Propiconazole + Tricyclazole, Kasugamycin + Tricyclazole….
  • Bệnh cháy bìa lá:

Bệnh có thể xuất hiện ngay trong đoạn đẻ nhánh của ruộng lúa. Tuy nhiên thường gặp nhất là bệnh bắt đầu xuất hiện khi ruộng lúa được 40 – 50 ngày tuổi.

Bệnh gây nên những vết cháy có màu xám, hoặc vàng nâu hoặc nâu đỏ, dọc theo hai bên rìa lá. Vết bệnh lan dần xuống phía dưới lá và lan dần vào gân chính của lá lúa.

Bệnh lây lan rất nhanh sau khi lúa trổ và có thể gây thiệt hại rất nặng.

Biện pháp phòng trị: Sử dụng các hoạt chất: Oxolinic acid, Ningnanmycin, Gentamicin Sulfate + Oxytetracycline Hydrochloride……

  • Bệnh vàng lá chin sớm:

Bệnh thường tấn công những lá phía dưới trước, sau đó lan dần lên các lá phía trên. Lúc đầu vết bệnh chỉ là những chấm nhỏ có màu xanh úng hay vàng nhạt sau đó chuyển dần sang màu vàng cam và lớn dần, kéo dài thành một vệt dọc theo phiến lá đi dần lên phía chóp lá.

Khi mới nhiễm vết bệnh vẫn còn tươi, càng về sau vết bệnh càng trở lên khô cháy, nếu nặng sẽ làm cho toàn bộ lá bị khô rạc đi trước khi lúa chín làm hạt lúa trỗ ra bị lép lửng nhiều.

Biện pháp phòng trị: Sử dụng các hoạt chất hóa học:Mancozeb + Metalaxyl, Carbendazim…

  • Bệnh lem lép hạt:

Bệnh lem lép hạt trên lúa do nhiều nguyên nhân: nhện gié, vi khuẩn và các loại nấm.

Biện pháp xử lý bằng thuốc hóa học vẫn được xem là biện pháp hiệu quả nhất trong việc phòng trị bệnh lem lép hạt.

Trong việc dùng thuốc phải chú ý phun thuốc phòng bệnh là tốt nhất, để khi bệnh đã xâm nhập vào hạt lúa rồi thì việc phun thuốc trị bệnh sẽ cho hiệu quả thấp, phải phun đi phun lại nhiều lần rất tốn kém. Việc chọn lựa đúng loại thuốc và thời điểm phun thuốc cũng rất quan trọng.

Hoạt chất thuốc hiệu quả cao hiện nay: Azoxystrobin + Difenoconazole…

  • PHÒNG TRỪ CHUỘT:

- Phối hợp nhiều biện pháp cùng 1 lúc: Thời vụ tập trung, vệ sinh đồng ruộng, đặt bẫy, đào hang, bỏ khí đá vào hang, bơm nước vào hang, dùng chó săn bắt.

- Đánh bả chuột: dùng lúa mộng hay thức ăn gia súc làm mồi trộn với thuốc diệt chuột, nên đặt nhiều đợt, cách nhau 4– 5 đêm, giá để mồi có thể là ống tre, vỏ dừa.

- Sử dụng thuốc viên nhét vào miệng hang.

- Dùng thuốc xông hơi hay khí đá bỏ vào hang và bịt miệng hang lại.

- Gặt lúa dồn từ xung quanh vào giữa, cuối cùng bao lưới để bắt

 

Phóng sự

Phóng sự Phân bón Hải Dương tại Lâm Đồng năm 2018

Thành tích
Trang liên kết
Thống kê truy cập